.jpg)

Huy chương vàng của bài thơ
TƯƠNG TƯ TRÀ VIỆT
Đời vui khi chớm nụ ngày
Cùng anh nhấp chén trà đầy hương thơm
Nhọc nhằn bao cuộc áo cơm
Tan như sợi khói lửa rơm cuối chiều
Hương thơm trà tỏa phiêu diêu
Nhẹ lòng thanh thản cánh diều vờn mây
Bao điều chưa kịp giãi bày
Chén trà - nhân chứng lời hay tâm tình
Hóa thân từ đất quê mình
Chắt chiu hương đất, ủ linh khí trời
Thấm từng giọt mặn mồ hôi
Cây chè xanh nảy vạn chồi búp non
Qua bao lửa, búp se giòn
Hóa trà tinh túy nước non dâng đời
Người miền ngược, kẻ miền xuôi
Chén trà thơm ngát hương đời mời nhau
Mai sau, mai sau, mai sau
Ngát hương trà Việt đượm màu quê hương
An nhiên trong cõi vô thường
Còn yêu, ta mãi còn tương tư trà.
TG NGUYỄN THỊ KIM THU

Tác giả Nguyễn Thị Kim Thu
Lời bình:
"TƯƠNG TƯ TRÀ VIỆT"- BÀI THƠ ĐẠT GIẢI NHẤT TRONG LỄ HỘI "TINH HOA TRÀ VIỆT" - 2022 ĐƯỢC TỔ CHỨC LẦN ĐẦU TIÊN TẠI PHỐ CỔ HỘI AN.
Niềm vui ngập tràn của đêm sinh nhật tròn 80 của chị Cả- nhà thơ Vạn Lộc- chưa kịp lắng xuống trong lòng các thi hữu Nguồn Việt Đà Nẵng thì một niềm vui mới lại ập đến khi tin hai thi hữu Nguyễn Thị Kim Thu (NTKT) và Trần Văn Thọ (TVT) dành GIẢI NHẤT và GIẢI NHÌ thơ lục bát trong Lễ hội "Tinh hoa trà Việt"- 2022 được tổ chức lần đầu tiên tại phố cổ Hội An. Bài thơ đạt giải nhất của NTKT có tựa đề là TƯƠNG TƯ TRÀ VIỆT và bài thơ đạt giải nhì của TVT có đề tựa là TÌNH TỰ TRÀ VIỆT.

Ở bài viết này, tôi muốn đi sâu vào tìm vẻ đẹp trong bài thơ lục bát đạt giải nhất của nàng thơ Nguyễn Thị Kim Thu (NTKT)
Với bài thơ "Tương tư trà Việt", nhà thơ NTKT đã mở đầu bài thơ:
"Đời vui khi chớm nụ ngày
Cùng anh nhấp chén trà đầy hương thơm
Nhọc nhằn bao cuộc áo cơm
Tan như sợi khói lửa rơm cuối chiều"
Quả là cái thú thưởng thức của người Việt thường vào buổi sớm mai không chỉ để sảng khoái tinh thần sau một giấc ngủ say bởi sự lao động cực nhọc vì "áo cơm" cho gia đình, con cái của những ngày hôm trước. Và mùi vị của trà đi qua thực quản và hương thơm của trà đi qua khứu giác, não bộ...tất cả cùng đi vào cơ thể đã "tan như sợi khói lửa rơm cuối chiều". Cái hình ảnh ở câu thơ cuối của khổ thơ này gợi ta nhớ nhớ một bức tranh tuyệt đẹp nơi làng quê yên ả thổi khói lửa rơm cho bữa cơm chiều.
Đến khổ thơ thứ hai, nàng thơ NTKT viết tiếp:
"Hương thơm trà tỏa phiêu diêu
Nhẹ lòng thanh thản cánh diều vờn mây
Bao điều chưa kịp giãi bày
Chén trà - nhân chứng lời hay tâm tình"
Đúng vậy, trước mùi nhẹ nhàng của hương thơm trà lan tỏa làm sao mà không thấy "phiêu diêu"? Mùi hương ấy khiến cho lòng người lâng lâng, nhẹ nhõm như cánh diều bay lượn trên mây. Trong cuộc sống bộn bề nhiều điều trăn trở đôi khi không thể giải bày, song khi ngồi vào bàn nhấp chén trà, người ta lại ngộ ra được nhiều điều, và khi ấy chén trà như là một "nhân chứng", "tâm tình" với ta bao điều thú vị. Phép ẩn dụ ở câu thơ cuối của khổ thơ này đưa đến cho người đọc bao cảm xúc mong muốn được thưởng thức trà.
Ở khổ thơ thứ ba, nàng thơ viết tiếp:
"Hóa thân từ đất quê mình
Chắt chiu hương đất, ủ linh khí trời
Thấm từng giọt mặn mồ hôi
Cây chè xanh nảy vạn chồi búp non"
Từ đây cho ta hiểu rằng cây chè được sản sinh ra từ những đồi đất quê mênh mông; cây chè ấy được hương đất màu mỡ và "linh khí trời" nuôi dưỡng cũng những bàn tay lao động chăm bón với bao mồ hôi của người nông dân Việt Nam cần cù chịu thương chịu khó, từ đó mà cây chè xanh đã bật mầm nảy ra hàng vạn búp non và người lao động cần mẫn đến hái về... Với khổ thơ này, nhà thơ đã dụng công chia đôi câu thơ thứ nhì (câu bát) thành hai vế rất cân và đối xứng nhau và hình ảnh ở mỗi vế gây ấn tượng cùng cảm xúc mạnh trong lòng người đọc. Câu thơ thứ ba (câu lục) bằng ngôn từ chắc lọc gợi lên hình ảnh lao động của người nông dân trồng chè thật đáng trân trọng.
Đến khổ thơ thứ tư, nàng thơ viết:
"Qua bao lửa, búp se giòn
Hóa trà tinh túy nước non dâng đời
Người miền ngược, kẻ miền xuôi
Chén trà thơm ngát hương đời mời nhau"
Cho ta thấy rằng búp chè được hái về, qua nhiều công đoạn chế biến với lửa củi rừng đã biến búp chè xanh khô giòn và hóa thành các loại trà tinh túy để dâng cho đời ở mọi miền miền đất nước- từ miền xuôi đến miền ngược, thậm chí còn ra đến tận ngoài hải đảo mỗi khi người lính được kỳ nghỉ phép về thăm gia đình mua trà ra đảo cùng đồng đội thưởng thức và hàn huyên tâm sự về sự phát triển thay đổi của quê hương. Cặp lục bát thứ hai của khổ thơ khiến tôi gợi nhớ đến những năm tháng trong quân ngũ hễ có đồng đội quê Bắc được về phép thăm nhà ăn tết đến sau tết trả phép là đồng đội chúng tôi được thưởng thức trà móc câu tuyệt hảo. Cũng như trong cuộc sống hiện tại, đôi khi tôi cũng được tặng trà thơm xứ Bắc.
Với khổ thơ này, nàng thơ khá công phu trong việc chắc lọc ngôn từ làm cho khổ thơ mang nhiều hình ảnh thi vị về trà.
Và nàng thơ NTKT đã khép lại bài thơ với khổ thơ cuối:
"Mai sau, mai sau, mai sau
Ngát hương trà Việt đượm màu quê hương
An nhiên trong cõi vô thường
Còn yêu, ta mãi còn tương tư trà."

Đã khẳng định rằng cho dù cuộc đời này vốn vô thường, nhưng còn sống, còn yêu là nàng thơ nói riêng và khách trà nói chung vẫn mãi "tương tư trà Việt", một nỗi tương tư thật dễ thương mà đằm thắm làm sao!
Ba lần điệp từ "mai sau" với toàn âm bằng ở câu lục đầu tiên nghe nhẹ nhàng mà chắc nịch. Phải chăng "Tinh hoa trà Việt" mang đậm nét tâm hồn hồn hậu của con người Việt Nam mà khách trà khó có thể quên được!
Với bài thơ lục bát "Tương tư trà Việt" gói gọn trong 20 câu, nhà thơ NTKT đã khá tinh tế trong chắc lọc ngôn từ đã làm cho "Tinh hoa trà Việt" hấp dẫn hơn trong lòng trà khách và nhất là những ai chưa từng có thói quen uống trà. Bấy nhiêu cũng đã nói lên sự thành công của thi phẩm.
TG TRẦN THU GIANG (DŨNG LÊ)

Tác giả Trần Thu Giang(bên trái)
*Cám ơn bộ đôi tác giả đã gởi bài về Blogquangnam