.jpg)
.jpg)
VỊ QUÊ
Điện thoại reo. Em tôi bảo vừa đáp xuống sân bay Đà Nẵng về quê và muốn thưởng thức món mỳ Quảng. Thứ quà mà em nhắc đến sau mấy chục năm lưu lạc bên trời Âu nay được trở về quê hương. Em tôi – đứa trẻ mồ côi ngày nào – giờ là tiến sĩ khoa học làm việc ở nước Đức.
Niềm vui vỡ oà trong làn nước mắt!
Tôi định sẽ dọn bàn ăn trong phòng khách cho thêm phần trang trọng. Nhưng em khoác tay bảo cứ trải chiếu ăn ở đất thôi. Nhìn dáng ngồi bệt trên chiếu của em, tôi liên tưởng đến ngày xưa khi em còn thơ bé. May mà trong những năm tháng đi xa, học tập và làm việc nơi xứ người, em vẫn giữ được nét mộc mạc, chân chất của ngày xưa... Em chọn tô cho nhiều rau, bóp bánh tráng lốp bốp, lâu lâu lại cắn một miếng ớt xanh nhai rụm rụm, trông đến là ngon. Hình như, em ăn mỳ Quảng bằng cả tấm lòng, bằng cả nỗi nhớ quê hương da diết, bằng cả nỗi bồn chồn, háo hức khi về thăm quê. Ăn cả hương vị tuổi thơ thòm thèm ngồi đợi (có khi ngủ gật) để được thưởng thức tô mỳ gạo mới
Em đút cho tôi một đũa mỳ, kèm một miếng ớt xanh giấu bên dưới, nhìn sâu vào mắt tôi, cười như nắc nẻ… Ấy là, trò ngày bé của chúng tôi.
Những kí ức mất trật tự và cứng đầu cứ thi nhau ùa về .
Nhà tôi và em có chung một cái sân không có cả cái “giậu mồng tơi” để rớt! Bom Mỹ cướp đi cả cha lẫn mẹ em khi đi làm đồng. Nương tựa với ngoại, em nhỏ choắt, đen nhoẻn. Tôi mồ côi cha, nhà bốn chị em nheo nhóc bên mẹ. Hai nhà có phải vì thế mà không làm nổi hàng rào? Hay mẹ và bà cố ý giao ước ngầm hiểu hai nhà là một.
Tuổi thơ chúng tôi, những đứa trẻ côi cút, lấm lem bùn đất. hiếm khi được cơm no, áo ấm… vẫn đầy ắp tiếng cười và không thiếu những trò nghịch ngợm. Vui nhất là vào những ngày hè khi con ve tấu lên khúc nhạc vui nhộn, ruộng gặt xong, thả sức thung thăng thả diều khi đàn trâu no cỏ. Đặc biệt nhất vẫn là ngày “cúng cơm mới”. Hạnh phúc nhỏ nhoi có thể phải dùng kính hiển vi mới rõ được nhưng tuổi thơ trong veo ngô nghê không thể nào quên. Từ tối hôm qua, mẹ đã đổ những hạt lúa “ba trăng” vàng ươm được nắng vào cối xay tre cút kít rồi giã trắng bông. Múc nước giữa giếng lên ngâm vút cẩn thận. Lúc con gà trống vỗ cánh đành đạch gáy vang, mẹ đổ gạo ngâm vào cối đá xay với nước. Dòng bột trắng tinh như sữa từ từ rịn ra theo tay quay của mẹ. “Bột phải lấy vừa sanh sánh thì mì tráng mới ngon”, mẹ bảo vậy. Những chiếc bánh tròn chín phồng được bà cẩn thận tráng hai lớp trắng mịn, đẹp mắt. Tôi lớn hơn có nhiệm vụ xoa dầu từ lúc còn nóng cho bánh trơn, dễ lấy. Em nhỏ nhất cũng đành hanh dành soi đèn cho cả nhà. Mấy đứa còn lại đành phải đẩy lửa và xách nước.
Trời hửng sáng, mỳ đã tráng xong. Con gà mái tơ được mẹ làm sạch, chặt thành miếng nhỏ. Bà xắt búp chuối sứ chặt ngoài vườn hôm qua vào chậu nước sạch bỏ chút muối, một muỗng giấm cho trắng. Chúng tôi mỗi đứa một việc. Đứa giã nén, nghệ,, sả, ớt cho mẹ xào gà, đứa cắt rau đắng, đứa hái rau quế, rau húng, rau diếp… Mặt đứa nào cũng háo hức, khẩn trương, cũng thắc thỏm chờ đợi…
Mấy đứa con gái được mẹ hướng dẫn cặn kẽ: “Um gà trước hết, bắt nồi lên cho ráo, đổ một ít dầu phụng “mới”, cho sôi già thì khử nén, nghệ mới thơm. Cho gà vô xào săn lại nêm mắm, muối vừa ăn để một chặp cho gà thấm. Đổ nước sôi, nấu một lúc khi mô dậy mùi thơm sẽ có được một nồi nhưn đậm đà, thơm phức. Quan trọng là phải dồn hết tình cảm, tâm huyết… thì nồi nhưn mới có hương vị đặc trưng riêng không nơi mô sánh được ”.
Khi ông mặt trời dệt những tia nắng đầu tiên trên sân nhà. Mâm cổ đã hoàn tất. Mùi thơm lừng len vào từng bụi tre, ngọn cỏ, mái rạ… loan báo với làng trên, xóm dưới hôm nay nhà chúng tôi “cúng cơm mới”.
Bà đại diện vái lạy ông thần nông cho cả nhà “ bát cơm”, lũ trẻ chúng tôi cũng nghiêm trang chắp tay trước ngực vái theo. Và… phổng mũi hít hà mùi thơm béo ngậy bốc lên từ mâm cổ.
Chiếc bánh tráng vàng rộm lấm tấm mè đen được bẻ ra khá hấp dẫn. Những tô mỳ trắng tinh được xếp những miếng thịt gà vàng ươm, điểm xuyết những cọng hành được lũ em tôi cắt tỉa công phu, xen lẫn những hạt đậu phộng vàng đều giã dập thơm lừng. Chính giữa là đĩa rau. Búp chuối sứ được bà xắt rất khéo xoăn tít như đầu phi - dê của quí bà xoắn lấy những cọng rau đắng xinh xinh, những đọt rau quế, rau húng mới hái như còn lấp lánh sương buổi sớm. Lá rau diếp xanh thẩm làm đĩa rau thêm ngon mắt. Có lẽ rau sống cũng là một thứ không thể thiếu trong món mỳ Quảng. Bên cạnh đĩa ớt xanh và chanh cắt lát là chén nước mắm nhỉ màu hổ phách dằm ớt xanh. Tất cả trong sự háo hức chờ đợi của lũ trẻ chúng tôi. Khuôn mặt mẹ, bà rạng ngời hạnh phúc luôn tay chan nhưn nóng hổi vào những tô mỳ. Nhìn chúng tôi ăn như “tằm ăn lên”, nhai rau ráu, húp xì xụp… Loáng một cái đã sạch bong những tô mỳ không còn một giọt nước. Em làm “oay” cắn một miếng ớt rồi hít hà chạy đi uống nước. Ăn xong đứa nào, đứa nấy xoa bụng hả hê
Khỏi phải nói, vị béo ngọt của thịt gà, cay nồng của ớt, ngòn ngọt của rau búp chuối, nhân nhẩn của rau đắng, thơm thơm của quế húng, chua chua của rau diếp, béo thơm của đậu phụng, giòn tan của bánh tráng mè… Tất cả hương vị như quyện lại quấn mãi nơi đầu lưỡi. Khiến ai đã từng một lần ăn mỳ Quảng thì khó có thể quên được. Thậm chí có người ăn thường xuyên mà vẫn có cảm thèm thuồng như mới được ăn lần đầu.
Tiếng em kéo tôi về thực tại. “Răng mỳ Quảng của mình lại ngon ghê rứa chị? Những năm lưu lạc ở trời Tây nếm đủ món ngon, vật lạ nhưng không mần răng em quên được hương vị của mỳ Quảng! Lắm lúc nhớ quá em tự làm mì ăn cho đỡ ghiền.”
Tôi cười trong nước mắt:
- Với chị ngon nhứt vẫn là tô mỳ cô Ba xóm trên cúng cơm mới đem cho ngoại em năm nớ.
- Hồi nớ, em cứ nằng nặc đòi đợi chị đi học về cùng ăn, nên cứ ôm khư khư chiếc rổ úp tô mỳ mà ngủ quên luôn.
- Tô mì lạnh ngắt, trương lên nhưng chị lại thấy ngon lạ.
- Năm chị em, mỗi đứa chỉ vừa một đũa, mà răng không ngon được. Lúc ấy ngoại cười mà mắt cứ rưng rưng.
Giọng em chợt đượm buồn. “Thế mà chỉ một năm sau ngoại em mất. Nếu không có gia đình chị cưu mang, thì răng em còn sống đến chừ.”
- Phải nói là nhờ hội chữ thập đỏ đưa em vô trại mồ côi mới có cô gái xinh đẹp, giỏi giang như bây chừ. Hồi nớ sau khi em đi, chị nhớ em khóc đỏ cả mắt.
Bao nhiêu năm xa cách, nay có dịp gặp lại hàn huyên đủ thứ chuyện trên đời. E vẫn vậy, vẫn giữ được nét chân chất, dù cuộc sống bây giờ có nhiều đổi thay.
Thời bao cấp làm ăn không đủ sống, mẹ dắt các em lên Tây Nguyên lập nghiệp để trông có mà đổi đời. Còn tôi vẫn trụ lại xứ này, có lẽ vì mình đã phải lòng với mỳ Quảng. Nghe tâm sự vậy, em tôi xúc động lắm và không quên khen “Mì Quảng made in nhà chị Hai” ngon nhứt!
Tiếng cười lại vang lên giòn tan như chiếc bánh tráng mè thơm lựng.
Tác giả: Lê Thị Điểm
GV Trường THCS Quế Thuận, Quế Sơn, Quảng Nam
Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam
*Cám ơn Cô đã gởi bài về cho Blogquangnam